Cây đinh hương

Cây đinh hươngTheo Đông y:
Tính vị, quy kinh (hoa): Tân, ôn; vào các kinh tâm, can.
Công năng: Hoạt huyết thông kinh, tán ứ, chỉ thống
Chủ trị: Kinh nguyệt bế tắc, hành kinh đau bụng, máu hôi không ra; hòn cục bĩ khối, sưng đau do sang chấn; mụn nhọt sưng đau.
Cách dùng, liều lượng (Hoa): Ngày dùng 3 – 9g, dạng thuốc sắc. Thường phối hợp với các vị thuốc khác.
Kiêng kỵ: Phụ nữ có thai không nên dùng.
Hoa đinh hương
Đinh hương còn gọi là đinh tử hương, chi giải hương, công đinh hương, hùng đinh hương…, thực chất là nụ hoa của cây đinh hương, tên khoa học là syzy-gium aromaticum (L) Merr. et Perry, thuộc họ Sim (Myrtaceae). Đây là một vị thuốc thường dùng trong y học cổ truyền, được xếp vào nhóm thuốc ôn lý.
Hoa đinh hương mọc ở đầu cành, nụ hoa trông giống cái đinh, dài có 4 răng dày, hàn liền ở phía dưới thành ống màu đỏ, tràng 4 cánh rời nhau, màu trắng vàng, rụng sớm, nhị rất nhiều, xếp thành nhiều vòng. Nụ đinh hương thơm, loại có màu vàng hơi vàng nâu và rắn là tốt, loại để lâu, có màu đen và mọt lá kém. Người ta thường thu hái đinh hương vào lúc hoa chuyển từ màu xanh sang đỏ gạch, phơi âm can hoặc sấy nhẹ cho khô rồi bảo quản nơi khô ráo và đậy kín để dùng dần.
Nụ hoa đinh hương chứa tinh dầu, tinh dầu nụ đinh hương là chất lỏng không màu hoặc màu vàng, để lâu sẽ sẫm màu. Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, đinh hương có tác dụng dược lý khá phong phú như: ức chế sự phát triển của một số loại vi khuẩn như trực khuẩn lỵ, thương hàn, phó thương hàn, bạch hầu, than, colim tụ cầu vàng…, chống viêm loét đường tiêu hóa, kích thích tiết dịch mật và dịch vị, nhờ đó thúc đẩy quá trình tiêu hóa; Giảm đau, chống viêm và bình suyễn; ức chế co bóp cơ trơn thành ruột và khí phế quản; ức chế hoạt động của amip trên in vitro; giải nhiệt; kháng virus; ức chế quá trình ngưng tập tiểu cầu; chống oxy hóa; nâng cao khả năng chịu đựng của cơ thể trong điều kiện thiếu ô xy…
Tác dụng y học cổ truyền:
Theo dược học cổ truyền, đinh hương vị cay, tính ấm, vào bốn đường kinh Phế, Tỷ, Vị và Thân, có công dụng ôn trung (làm ấm bụng), noãn thận (làm ấm thận), giáng nghịch, kích thích tiêu hóa. Thường được dùng để chữa các chứng bệnh như ách nghịch (nấc), ẩu thổ (nôn), tiết tả (đi lỏng), kiết lỵ, đau bụng do lạnh, sán khí (thoát vị bẹn hoặc thoát vị bìu, đau từ bìu lan lên bụng dưới), đau răng, phản vị (chứng ăn vào thì bụng đầy chướng, sáng ăn chiều mửa, chiều ăn sáng mửa, mửa ra thức ăn không tiêu hóa), hoắc loạn (bệnh tả)…

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *