Cây trúc đào

Cây thảo, sống hàng năm, thân khỏe; lá bóng láng, có vân trắng dọc theo gân lá; mép lá có răng, gai nhọn.
Cụm hoa hình đầu ở ngọn, hoa màu tím, hình ống; bao chung với lá bắc, có gai. Quả bế, đen, có mào lông.
Công dụng: điều trị viêm gan mạn tính, viêm gan nhiễm khuẩn, cổ trướng, suy gan.
Chỉ định: viêm gan cấp và mạn tính; xơ gan ở giai đoạn bù trừ chức năng suy gan; gan nhiễm mỡ; bảo vệ nhu mô gan khi dùng các thuốc có độc tính đỗi với gan.
Cách dùng, liều lượng:
Dạng cao dược liệu
Dạng hoạt chất: silymarin viên bọc đường 35-70 mg, si rô 140mg hoặ dung dịch uống 50mg trong 5ml. Hỗn hợp chiết xuất flavonoid gồm phức hợp sily-binin, silycristin, silydiamin (3:1:1) có tác dụng bảo vệ gan (ổn định màng tế bào gan, duy trì các chức năng như mô gan, hướng mở và kích thích quá trình tái tạo nhu mô gan).
Liều dùng, theo hướng dẫn của thầy thuốc và nhà sản xuất từng loại biệt dược.
Lưu ý: Người suy nhược có thể bị ỉa chảy hoặc ảnh hưởng đến dạ dày khi dùng biệt dược này.
Trúc đào
Cây trúc đào còn gọi là đào lê, giáp trúc đào. Thuộc họ trúc đào Apocynaceae, vì lá cây giống lá trúc, hoa giống hoa đào, do đó có tên trúc đào.
Trúc đào là một cây nhỡ, có thể cao tới 4-5m, mọc riêng lẻ hay có khi trồng thành bụi. Cành mềm dẻo. Lá mọc đối hay mọc thành vòng từng 3 lá một, thuộc loại lá đơn, mép nguyên, cuống ngắn, phiến lá hình mác, dài 7-20cm, rộng từ 1-4cm, dai cứng, mặt trên màu xanh thẫm, mặt dưới màu nhạt hơn, gân đều, song song ngang hai bên gân chính. Hoa màu hồng hay màu trắng, mọc thành xim ngù ở đầu cành. Quả gồm hai đại, gầy, trong chứa rất nhiều hạt có nhiều lông.
Độc tính của lá trúc đào đã được biết từ lâu. Tại Châu u, người ta kể những trường hợp lính vùng đảo Corse (một đảo thuộc miền Đông nước Pháp) đã bị ngộ độc và tử vong do ăn thịt xiên vào cành cây trúc đào để nướng. Có những người đã bị ngộ độc nặng do uống nước đựng trong chai nút bằng cây trúc đào, hay do uống nước suối rễ cây trúc đào mọc ở gần.
Tại Á Đông, trúc đào được ghi trong cuốn y học nhập môn của Lý Duyên như sau: Chữa những người tự nhiên mặt bừng (bạo xích), có nước tích tụ trong ngũ tạng làm bụng to, lợi tiểu tiện.
Trong y học, trúc đào được dùng lần đầu tiên vào khoảng năm 1866 sau khi được nhà dược lý học người Nga E. B. Pelikan nghiên cứu, nhưng sau đó bị lãng quên.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *