Bằng lăng tía

Cây bằng lăng tía còn có tên gọi khác săng lẻ, bằng lăng ổi, rơ gia, họ tử vi. Cây có nguồn gốc từ cây mọc hoang từ Thanh Hóa, Nghệ An, dọc Trường Sơn vào Đồng Nai, Bình Dương, Tây Ninh, cây còn có ở Lào, Campuchia.
Cây gỗ cao 20-30m, cành non, có lông màu hung, cành già nhẵn. Lá hình mác, mặt trên có lông hình sao, sau nhẵn, mặt dưới lông dày hơn. Cụm hoa hình chùy ở đầu cành, có lông màu vàng, hoa màu trắng, nhiều nhị. Quả nang hình trứng, đầu có mũi nhọn, khi chín nứt thành 6 mảnh. Mùa hoa, quả từ tháng 5 đến tháng 7.
Tác dụng: Kháng khuẩn
Công dụng, cách dùng
Chữa bỏng:
Liều dùng 300g vỏ, lấy 100g nấu với nước cho đặc dùng để rửa vết bỏng. Lấy 200g vỏ còn lại, băm nhỏ, nấu với nước hai lần, đem lọc, cô thành cao lỏng. Ngày bôi 2-3 lần cao lỏng lên vết bỏng, không cần băng.
Chữa tiêu chảy:
Vỏ thân phơi khô, sắc, uống hoặc tán bột làm viên thuốc. Mỗi lần dùng 6g, ngày dùng 2-3 lần, một đợt điều trị 7-10 ngày.
Chữa mấm da (hắc lào)
Vỏ thân ngâm trong rượu 60% với tỷ lệ 20-30%, dùng bôi ngoài.
Hoa sen
Hoa sen có nguồn gốc Châu Á lục địa, hoa sen là vật linh thiêng tượng trưng cho Ấn Độ giáo và phật giáo. Sen được trồng từ lâu đời ở Việt Nam để ăn, làm mứt, làm thuốc, làm cây cảnh. Có hai giống sen được trồng phổ biến.
Sen hồng, cao, khoẻ, hoa màu hồng, thơm.
Sen trắng, cây cao, hoa trắng, yếu hơn. Cây thấp hoa bé, thường trồng trong bể, trong chậu. Sen được trồng bằng mầm, ngó sen. Trồng vào giữa mùa xuân, thời tiết ấm; trồng xong cho nước vào ao, hồ từ từ cho ngập đến 2/3 thân cây, giữ mực nước như vậy khoảng 3-4 tháng. Mùa hè năm sau cây ra hoa, mùa đông cây tàn, mùa xuân lại mọc.
Sen mọc ở ao, đầm. Thân rễ hình trụ, mọc trong bùn. Lá mọc lên khỏi mặt nước, cuống lá dài, có gai nhỏ. Phiến lá hình lọng, to, đường kính 40-70cm, có gân tỏa tròn. Hoa to, màu đỏ hồng hay trắng, đều, lưỡng tính; 3-5 lá dài màu xanh lục, tràng gồm nhiều cánh hoa, nhiều nhị, bao phấn 2 ô, mở bởi kẽ nứt dọc, trung đới mọc dài ra thành một phần phụ màu trắng, nhiều tâm bì rời nhau, đựng trong một đế hoa loe ra hình nón ngược. Mỗi tâm bì có 1-2 noãn. Quả bế (thường gọi là hạt sen), dựng 1 hạt không có nội nhũ, có 2 lá mầm dày; chồi mầm gồm 4 lá non gấp vào phía trong.
Bộ phận dùng
Sen có nhiều bộ phận được dùng làm thuốc:
Quả sen (thường gọi là hạt): Còn nguyên vỏ quả gọi là liên thạch; bóc vỏ ngoài và bỏ mầm xanh ở lõi gọi là liên tử nhục hay liên nhục.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *